Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh;
Thuỷ bất tại thâm, hữu long tắc linh.
Tư thị lậu thất, duy ngô đức hinh.
Ðài ngân thượng giai lục, thảo sắc nhập liêm thanh.
Ðàm tiếu hữu hồng nho, vãng lai vô bạch đinh.
Khả dĩ điều tố cầm, duyệt Kim kinh.
Vô ti trúc chi loạn nhĩ, vô án độc chi lao hình.
Nam Dương Gia Cát lư, Tây Thục Tử Vân đình.
Khổng Tử vân: “Hà lậu chi hữu?”
Bài minh về căn nhà quê mùa
(Người dịch: Nguyễn Hiến Lê)
Núi không tại cao, có tiên thì nổi danh;
Nước không tại sâu, có rồng thì hoá linh.
Ðây là căn nhà quê mùa, chỉ nhờ đức ta mà thơm tho.
Ngấn rêu biếc leo thềm, sắc cỏ xanh chiếu rèm.
Cười nói có đại nho, đi lại không bạch đinh.
Có thể gảy cây đàn mộc mạc, đọc Kim kinh.
Không tiếng tơ tiếng trúc làm loạn tai, không giấy tờ, thư trát làm mệt thân hình.
Thảo lư của Gia Cát ở Nam Dương, nhà mát của Tử Vân ở Tây Thục.
Khổng Tử nói: “Có gì mà quê mùa?”
Chú thích: bạch đinh
Trỏ hạng bình dân, ít học, vô tài.
Kim kinh là kinh Kim Cang của nhà Phật.
Tiếng tơ là tiếng đàn, tiếng trúc là tiếng sáo, tiếng tiêu, nói chung là tiếng âm nhạc, ca hát ồn ào.
Chú thích: Nam Dương Gia Cát lư
Gia Cát Lượng (đời Tam Quốc) khi chưa ra giúp Lưu Bị, ở ẩn tại một thảo lư ở Nam Dương (nay là tỉnh Hà Nam).
Tử Vân tức Dương Hùng, đời Hán, ở Tây Thục, cất một cái nhà mát gọi là Nguyên Ðình, tức Tử Vân đình.
Chú thích: Hà lậu chi hữu?
Luận ngữ, thiên Tử hãn chép: “Tử dục cư, cửu di”, hoặc viết: “Lậu, như chi hà?”. Khổng Tử viết: “Quân tử cư chi tắc hoá, hà lậu chi hữu?”, nghĩa là: Khổng Tử (chán vì thi hành đạo của mình ở Hoa Hạ không được) muốn lại ở miền mọi rợ. Có kẻ hỏi: “Quê mùa quá, ở sao cho nổi?”, ngài đáp: “Người quân tử ở đó thì cải hoá phong tục đi, có gì là quê mùa?”. Bốn chữ “hà lậu chi hữu” lấy ở điển đó, mà dùng theo một nghĩa khác, không nói về phong tục, văn hoá mà nói về sự tồi tàn của căn nhà.
Nguồn gốc bài thơ “Lậu thất minh” của thi hào Lưu Vũ Tích
“Núi không màng cao hay thấp, có tiên ắt là núi nổi danh; Nước không màng nông sâu, có rồng ắt là nước linh”, đây là hai câu thơ mở đầu trong bài “Lậu thất minh” của thi hào Lưu Vũ Tích. Vậy nguồn gốc của tác phẩm nổi tiếng này là như thế nào?
Lưu Vũ Tích (772 – 842), tự Mộng Đắc.
Lưu Vũ Tích (772 – 842), tự Mộng Đắc, người Bành Thành (nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Giang Tô) đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), làm giám sát ngự sử đời Đức Tông. Lưu Vũ Tích vì từng tham gia cuộc vận động cải cách chính trị lúc đương thời, mà bị đày ra An Huy, huyện Hòa Châu làm một Thông phán hèn mọn.
Theo quy định, Thông phán phải được ở căn phòng ba gian. Nhưng tri huyện Hòa Châu thấy Lưu Vũ Tích là kẻ thất thế bị đẩy từ trên xuống, nên cố ý làm khó. Họ sắp xếp cho ông ở một căn phòng gần sông phía Nam thành.
Lưu Vũ Tích không oán thán nửa lời, ngược lại vẫn rất vui vẻ, còn tuỳ hứng viết ra hai câu đối, dán ở trên cửa: “Diện đối đại giang quan bạch phàm, thân tại Hoà Châu tư tranh biện”. Tạm dịch: Đứng trước sông lớn nhìn buồm trắng; Thân ở Hòa Châu tư tưởng tranh đua.
Tri huyện Hoà Châu sau khi biết chuyện rất tức giận, ra lệnh cho sai dịch trong nha môn chuyển chỗ ở của Lưu Vũ Tích từ cửa Nam huyện thành sang cửa Bắc huyện thành, diện tích vốn dĩ là ba gian nay thu hẹp lại còn phân nửa.
Phòng mới nằm bên sông Đức Thắng, xung quanh liễu rủ từng hàng, khung cảnh cũng hợp lòng người, Lưu Vũ Tích chẳng những không tính toán, mà còn tức cảnh sinh tình, lại viết trên cửa hai câu: “Thùy liễu thanh thanh giang thủy biên; Nhân tại Lịch Dương tâm tại kinh”. Tạm dịch: Rặng liễu xanh xanh rủ bên sông; Người ở Lịch Dương hồn ở kinh thành.
Vị tri huyện thấy Lưu Vũ Tích vẫn tỏ ra thong rong nhàn nhã, thờ ơ như không, liền phái người điều ông đến giữa huyện thành, hơn nữa chỉ cho một căn phòng nhỏ đủ để đặt một chiếc giường, một chiếc bàn, một chiếc ghế.
Trong vòng nửa năm, tri huyện đã ép Lưu Vũ Tích chuyển nhà ba lần, diện tích càng ngày càng nhỏ, cuối cùng chỉ là một căn phòng ổ chuột. Nghĩ đến tên quan ưa nịnh nọt đó, thật là ức hiếp người quá đáng, vì thế giận dữ viết bài thơ siêu phàm thoát tục, lại thanh cao thi vị “Lậu thất minh” này, đồng thời mời Liễu Công Quyền khắc trên bia đá, đặt trước cửa.
Khổng Tử vân: “Hà lậu chi hữu?”
Tạm dịch:
Núi không màng cao hay thấp, có tiên ắt là núi nổi danh; Nước không màng nông sâu, có rồng ắt là nước linh; Đây là căn nhà quê mùa, chỉ nhờ phẩm đức của ta, mà trở nên thơm tho. Ngấn rêu xanh biếc, leo dài lên bậc thềm; sắc cỏ xanh rì, phản chiếu lên tấm mành. Cười nói đều là bậc thông thái bác học, đi lại chẳng phải đám vô lại, ít học. Có thể gảy cây đàn mộc mạc, đọc kinh Phật; Không tiếng tơ tiếng trúc làm loạn tai, không giấy tờ, thư trát của quan phủ làm mệt thân. Gia Cát Lượng có nhà tranh ở Nam Dương, Dương Tử Vân có đình mát ở Tây Thục. Khổng Tử nói: “Có gì mà sơ sài?”
Khẳng định của Khổng Tử, là chú thích để đưa ra một kết luận sắc sảo nhất về phẩm chất đạo đức của ông, luận văn đương nhiên phải có luận cứ, mà dẫn lời của Khổng thánh nhân làm luận cứ, chắc chắn là luận cứ tốt nhất thời bấy giờ, đầy đủ mà không có gì để phản pháo.
“Nam Dương Gia Cát lư, Tây Thục Tử Vân đình”, lấy nhà tranh của Gia Cát Lượng, ngôi đình của Dương Tử Vân ở Tây Thục ra làm ví dụ, để nói về căn phòng sơ sài của mình, lấy người khác làm gương, hi vọng bản thân mình cũng có thể giống như bọn họ có được sự bồi dưỡng đạo đức thanh cao, và phản ánh tư tưởng của mình cũng noi theo bậc hiền nhân thời cổ đại, đồng thời ám chỉ rằng căn phòng của mình chẳng hề đơn sơ.
Tuệ Tâm, theo One Site World
huethu sưu tầm trên Net
Ý kiến bạn đọc
Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.